Đề thi IELTS WRITING mẫu kèm Đáp Án, Hướng dẫn làm bài & Dowload PDF

Đề thi IELTS WRITING mẫu kèm Đáp Án, Hướng dẫn làm bài & Dowload PDF

Là kỹ năng thứ 3 được thi sau Listening và Reading, IELTS Writing đánh giá kỹ năng viết tiếng Anh của người thi với hình thức bài viết học thuật có giới hạn thời gian. Nội dung đề bài của IELTS Writing phù hợp với các cá nhân sẽ hoặc đang theo chương trình học ở bậc đại học ở nước ngoài, cũng như những cá nhân đang đi làm hoặc có nguyện vọng học cao học. Tuy nhiên, đề bài viết IELTS Writing sẽ không đòi hỏi trình độ chuyên môn về lĩnh vực nào và người viết hoàn toàn có thể áp dụng kiến thức phổ thông và xã hội của mình vào bài viết. Để có cái nhìn chi tiết hơn về hình thức thi cũng như những tiêu chí mà bài thi IELTS Writing đánh giá ở chúng ta, các bạn hãy cùng DOL tìm hiểu nhé! Sẽ rất bổ ích với những bạn đang muốn luyện IELTS Writing đó!

IELTS Writing là gì

Cấu trúc bài thi IELTS Writing

Bài thi IELTS Writing có 2 phần, được đặt tên là Task 1 và Task 2. Dù thi trên giấy hay máy tính, dạng câu hỏi IELTS Writing ở cả 2 Tasks đều tương tự. 

IELTS Writing Task 1, đề bài có thể cung cấp một (hoặc một số) biểu đồ đường, biểu đồ cột, biểu đồ bánh, hoặc bảng dữ liệu và người thi được yêu cầu miêu tả thông tin và số liệu có trong các bảng hay đô thị dưới dạng bài viết. Hoặc ở trường hợp khác, đề bài cũng có thể cung cấp một sơ đồ về các bước của một quy trình hoặc bản đồ, và yêu cầu người thi miêu tả các dữ liệu đó. Bài viết IELTS Writing Task 1 phải được viết dài ít nhất 150 chữ, với văn phong học thuật academic hay semi-formal (loại tiếng Anh dùng trong môi trường học tập hoặc công sở), và được viết trên phiếu trả lời. Chúng ta có thể nháp trên phiếu đề bài, nhưng phiếu này không được mang ra khỏi phòng thi và cũng không được chấm điểm bởi giám khảo. Ngoài ra, bài viết phải trình bày theo dạng bài văn chia đoạn, liệt kê ý bằng gạch đầu dòng sẽ không được chấp nhận.

IELTS Writing Task 2, đề bài sẽ đưa ra một ý kiến, một quan điểm, một lời tranh luận, hay một vấn đề cụ thể. Người thi được yêu cầu viết một bài văn thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của mình, hoặc phân tích mặt lợi và mặt hại, hoặc chỉ ra nguyên nhân, hậu quả, giải pháp cho vấn đề cụ thể kia. Bài viết IELTS Writing Task 2 phải được trình bày với văn phong học thuật academic hay semi-formal và câu trả lời phải được viết dưới hình thức nghị luận, bao gồm quan điểm cá nhân, lý do của quan điểm đó, cũng như ví dụ. Người viết phải viết trên phiếu trả lời và viết ít nhất 250 chữ. Chúng ta có thể nháp trên phiếu đề bài, nhưng phiếu này không được mang ra khỏi phòng thi và cũng không được chấm điểm bởi giám khảo. Ngoài ra, bài viết phải trình bày theo dạng bài văn chia đoạn, liệt kê ý bằng gạch đầu dòng sẽ không được chấp nhận.

Thời gian làm bài IELTS Writing

Trong tổng thời gian 2 giờ 45 phút của ngày thi IELTS, thời gian làm bài IELTS Writing kéo dài 60 phút tính từ thông báo bắt đầu của giám thị. IELTS Writing là kỹ năng thi thứ 3 sau Listening và Reading. Sẽ không có thời gian nghỉ giữa bài Reading và bài Writing và người thi sẽ không được đi vệ sinh vào 20 phút cuối.

Ở IELTS Writing Task 1, người thi được khuyên dành không quá 20 phút cho Task này. Bài trả lời phải dài ít nhất 150 chữ và sẽ bị trừ điểm nếu không đạt số chữ yêu cầu. Tuy nhiên, nếu dành thời gian quá nhiều cho Task 1, thời gian cho Task 2 sẽ giảm xuống trong khi Task 2 chiếm gấp đôi số điểm IELTS Writing so với Task 1.

Ở IELTS Writing Task 2, người thi được khuyên dành không quá 40 phút cho Task này. Bài trả lời phải dài ít nhất 250 chữ và sẽ bị trừ điểm nếu không đạt số chữ yêu cầu. Tuy nhiên, dành thời gian quá nhiều cho bài viết sẽ làm mất đi thời gian xem lại và chỉnh lỗi chính tả hay ngữ pháp của bài. Điểm số Task 2 chiếm gấp đôi điểm số IELTS Writing so với Task 1.

4 Tiêu chí chấm bài IELTS Writing

Cả 2 bài IELTS Writing Task 1 và Task 2 được chấm theo barem điểm quy chiếu từ 0-9 đã được công bố của IELTS. Bài viết của 2 Task được chấm điểm riêng, sau đó lấy trung bình cho ra kết quả IELTS Writing cuối cùng, với Task 1 chiếm 1/3 và Task 2 chiếm 2/3. Hãy cùng DOL có cái nhìn kỹ hơn về từng tiêu chí chấm điểm nhé!

Task Achievement – Khả năng trả lời đề

Là tiêu chí mà sẽ quyết định có viết đúng đề bài hay không, có viết lạc đề hay không. Tiêu chí này khác nhau ở IELTS Writing Task 1 và Task 2, cụ thể:

Task Achievement Task 1: Tiêu chí đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu đề của thí sinh, biết chọn lọc thông tin hiệu quả, biết làm nổi bật những yếu tố so sánh
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Cố gắng trả lời đề nhưng không tả được mọi điểm chính

+ Nhầm lẫn các điểm chính với chi tiết nhỏ. Trả lời không rõ ràng, không liên quan, lặp lại, hoặc không chính xác

+ Trả lời được yêu cầu của đề nhìn chung

+ Liệt kê chi tiết một cách máy móc không có tổng quan. Không có số liệu để hỗ trợ lời mô tả.

+ Có trình bày đặc điểm chính, nhưng không đầy đủ. Có xu hướng tập trung vào tả chi tiết.

+ Đáp ứng được yêu cầu đề bài

+ Trình bày tổng quan phù hợp

+ Trình bày đủ đặc điểm chính, nhưng có chi tiết không liên quan, không phù hợp, hoặc không chính xác.

+ Đáp ứng được yêu cầu đề bài

+ Trình bày tổng quan rõ ràng các xu hướng / so sánh

+ Trình bày đủ đặc điểm chính, nhưng vẫn còn có thể mở rộng hơn

Task Achievement Task 2: Tiêu chí đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu đề của thí sinh, đưa ra quan điểm rõ ràng và biết cách phát triển luận cứ logic để chứng minh quan điểm đó
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Câu trả lời ít liên quan đề bài hoặc bị lạc đề; hình thức chưa phù hợp.

+ Trình bày một quan điểm nhưng không rõ ràng.

+ Trình bày một vài ý chính nhưng rất khó để nhận biết hoặc bị lặp lại, không liên quan hoặc không hỗ trợ tốt.

+ Chỉ đáp ứng trả lời đề bài; hình thức có thể chưa phù hợp một vài chỗ.

+ Thể hiện được quan điểm nhưng phần phát triển ý luôn luôn không rõ ràng và không có kết luận.

+ Trình bày vài ý chính nhưng bị giới hạn và phát triển ý không hiệu quả; có các chi tiết không liên quan đề bài.

+ Có thể đáp ứng tất cả các phần của đề bài mặc dù có vài phần chưa đầy đủ.

+ Thể hiện được quan điểm tương thích; phần kết luận chưa rõ ràng hoặc bị lặp lại.

+ Trình bày ý chính liên quan nhưng một vài ý chưa phát triển đầy đủ/ chưa rõ ràng.

+ Có thể đáp ứng các yêu cầu của đề bài.

+ Trình bày được quan điểm rõ ràng qua câu trả lời.

+ Trình bày, phát triển và hỗ trợ ý chính, nhưng có xu hướng tổng quát và hỗ trợ ý chính thiếu tập trung.

Coherence & Cohesion – Sự liền mạch và gắn kết

Coherence & Cohesion Task 1: Tiêu chí đánh giá khả năng thí sinh liên kết và sắp xếp các thông tin, các đoạn, các câu trong bài.
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Có trình bày thông tin nhưng không sắp xếp và bài viết không có sự phát triển ý

+ Sử dụng được công cụ nối cơ bản, nhưng sai hoặc lặp lại

+ Có sắp xếp thông tin nhưng không có sự phát triển ý

+ Sử dụng thiếu / sai / quá nhiều công cụ nối

+ Bài viết mang tính lặp lại vì không dùng từ thay thế / từ nhắc lại

+ Có sắp xếp thông tin và có phát triển ý

+ Sử dụng công cụ nối đúng, nhưng máy móc hoặc sai

+ Dùng từ thay thế / từ nhắc lại không hoàn toàn đúng

+ Có sắp xếp thông tin và phát triển ý

+ Sử dụng công cụ nối đúng mặc dù thi thoảng thừa hoặc thiếu

Coherence & Cohesion Task 2: Tiêu chí đánh giá sự mạch lạc, khả năng thí sinh liên kết và sắp xếp các thông tin, các đoạn, các câu trong bài. (bằng cách dùng từ nối và không dùng từ nối)
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Trình bày thông tin và ý tưởng nhưng sắp xếp chưa mạch lạc và không có quá trình triển khai ý rõ ràng.

+ Sử dụng các yếu tố liên kết đơn giản nhưng không chính xác hoặc bị lặp lại.

+ Chưa viết thành các đoạn  hoặc sử dụng gây nhầm lẫn.

+ Có sắp xếp tổ chức thông tin thiếu quá trình định hướng chung.

+ Sử dụng lặp lại hoặc chưa chính xác các từ liên kết.

+ Có thể bị lặp ý do thiếu trích dẫn hoặc ý thay thế.

+ Chưa chia đoạn hợp lý hoặc diễn giải đồng nghĩa chưa đầy đủ.

+ Sắp xếp thông tin và ý tưởng mạch lạc và có quá trình phát triển ý rõ ràng.

+ Có sử dụng từ liên kết hiệu quả, nhưng tính liên kết giữa các câu còn máy móc hoặc chưa chính xác.

+ Chưa sử dụng trích dẫn rõ ràng và phù hợp.

+ Sử dụng diễn giải đồng nghĩa nhưng không hợp trật tự.

+ Sắp xếp thông tin và ý tưởng theo trật tự nhất định, có quá trình rõ ràng.

+ Sử dụng các yếu tố liên kết phù hợp, tuy nhiên có bị lặp từ hoặc chưa tận dụng đúng cách.

+ Thể hiện câu chủ đề rõ ràng trong mỗi đoạn.

Grammar – Ngữ pháp

Grammar Task 1 & Task 2: Tiêu chí đánh giá khả năng sử dụng từ vựng một cách chính xác, đa dạng và phù hợp với ngữ cảnh
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Dùng giới hạn ngữ pháp và không dùng mệnh đề

+ Một vài cấu trúc dùng đúng nhưng phần lớn dùng sai

+ Dùng dấu (chấm, phẩy) thường xuyên sai

+ Giới hạn cấu trúc ngữ pháp

+ Cố gắng dùng câu phức nhưng sai nhiều hơn câu đơn

+ Thường xuyên sai ngữ pháp và dấu câu, gây khó khăn cho người đọc

+ Sử dụng câu đơn và câu phức

+ Một vài lỗi sai ngữ pháp nhưng không gây khó hiểu cho người đọc

+ Sử dụng đa dạng câu phức 

+ Thường xuyên không sai ngữ pháp và dấu câu nhưng có một số lỗi ít

Lexical Resource – Vốn từ vựng

Lexical Resource Task 1 & Task 2: Tiêu chí đánh giá khả năng sử dụng ngữ pháp đúng và đa dạng (có nhiều cấu trúc câu phức khác nhau) trong bài.
4.0 5.0 6.0 7.0
+ Chỉ dùng từ vựng cơ bản làm bài viết lặp lại và không đủ diễn tả ý

+ Thường xuyên không đúng word form, chính tả làm người đọc không hiểu

+ Từ vựng bị giới hạn và chỉ đủ để trả lời đề 

+ Sai word form, chính tả làm người đọc khó hiểu

+ Sử dụng đủ từ vựng cho đề bài

+ Có cố gắng dùng từ không thường gặp nhưng không chính xác

+ Sai word form, chính tả nhưng không làm người đọc khó hiểu

+ Sử dụng từ vựng linh hoạt

+ Dùng từ không thường gặp đúng collocation và văn phong

+ Thi thoảng sai word form, chính tả

Đề mẫu IELTS Writing Task 1 + Sample

The given bar graph presents the information on how much time was spent on 3 categories of UK telephone calls in the 1995-2002 period, measured by billions of minutes.

Overall, although the majority of the population used the local fixed line, the gap between the three categories had narrowed considerably over the second half of the period.

As can be seen, local fixed-line calls were the highest throughout the period, rising from 72 billion minutes in 1995 to just under 90 billion in 1998. After peaking at 90 billion the following year, these calls fell back to the 1995 figure by 2002.

We can also see that national and international fixed line calls grew steadily from 38 billion to 61 billion over the 8-year span, though the growth slowed over the last two years. By contrast, there was a dramatic increase in mobile calls from 2 billion to 46 billion minutes. This rise was particularly noticeable between 1999 and 2002, during which time the uses of mobile phones tripled.

Đề mẫu IELTS Writing Task 2 + Sample

A question has been raised whether people’s professed interest in sports has contributed to the development of society or they are merely a form of recreation.

Although I understand why some people support the view that sport is only something people do to pass the time, I still believe there is much to gain from sports as far as society is concerned.

There are several reasons why people do not hold sport in high regard. The first one is that sport is commonly thought of as a niche hobby with its subculture and community. Outsiders of these types of communities may not be aware of how high the payment organizations often make to get a sponsorship or partnership deal or how many millions of dollars a varsity team earns through collegiate football. Moreover, non-sports fans are deterred from reading sports columns because there is so much jargon being used to talk about a subject that is not of their interest that they want to divert their attention to other topics. Over time, they become indifferent to what effects sports have had on the development of society and associate sports with the memories they had in PE classes at school.

Nevertheless, I am in favour of the opinion that sports have made big contributions to our society for several reasons. Firstly, sports bring people together and build a stronger community. Every year stadiums worldwide have their seats filled with millions of spectating fans during the finals of major sporting tournaments, like the UEFA Champions League, Wimbledon, or Super Bowl, let alone the TV viewerships and radio listeners. Secondly, sports intangibly contribute to the better physical well-being of the public. Apart from striving to attain the fitness level or body shape of sports players, people may also partake in athletic endeavours provided by their employers. Free gym memberships, for example, are a type of sport-related CSR program that is increasingly popular.

In conclusion, despite understanding why some people believe there is nothing more to sports than a form of physical entertainment, I do not think the reasons make a cogent case.  Thus, I still hold the view that sports shape and pervade the society we live in today.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *